Đường Dây 500Kv Được Xây Dựng Nhằm Mục Đích Gì ?

Đường dây 500kV khu vực phía Bắc – Nam mạch 1 là đồ án đường dây tải điện (AC) với đường dây siêu cao áp 500 kV đầu tiên của Việt Nam có tổng chiều dài là 1.488 km, kéo dài từ Hòa Bình đến Phú Lâm. Mục tiêu của việc xây dựng dự án là truyền tải lượng điện dư thừa từ miền Bắc vào (từ cụm nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác Bà; NMNĐ Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình) để cung cấp cho miền Nam và miền Trung lúc đó thiếu điện trầm trọng, đồng thời liên kết hệ thống điện địa phương của ba miền thành một khối thống nhất.

Mục đích xây dựng đường dây 500kv?

A. Khắc phục tình trạng mất cân bằng điện năng trên các vùng lãnh thổ.

B.Tạo thành một mạng lưới điện phủ khắp cả nước.

C. Kết hợp nhiệt điện và thủy điện vào mạng lưới điện quốc gia.

D. Đưa điện về phục vụ cho bà con nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa.

Câu trả lời chính xác: A.

Đường dây 500kv được xây dựng nhằm mục đích khắc phục tình trạng mất cân bằng điện năng trên các vùng lãnh thổ, góp phần giải quyết các vấn đề thừa điện ở miền Bắc, thiếu điện ở miền Trung và miền Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế ở cả ba miền Bắc-Trung- Nam.

Giải thích tại sao câu trả lời đúng là A

Đường dây 500 kV là công trình trọng điểm trong phát triển kinh tế đất nước cả giai đoạn đầu và giai đoạn sau.

Dự án được xây dựng và đưa vào hoạt động lần đầu tiên vào năm 1994 với mục đích chính là khắc phục tình trạng mất cân đối điện năng trên các vùng lãnh thổ. Góp phần giải quyết vấn đề thừa điện ở miền Bắc, thiếu điện ở miền Trung và miền Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế ở cả ba miền Bắc-Trung- Nam.

Đường dây 500 kV phía Bắc- Nam mạch 1 là 1. Dài khoảng 487 km được khởi công xây dựng vào tháng 4/1992 và hoàn thành đóng điện vào ngày 27/5/1994.

19:06 ngày 27/5/1994 tại trung tâm Điều độ Quốc gia, Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh hòa hệ thống điện miền Nam 4 tổ máy của nhà máy thủy điện Hòa Bình tại trạm Đà Nẵng qua đường dây 500 kV, kết nối hệ thông thống điện Bắc-Nam theo cả hai hướng.

Mục tiêu của việc xây dựng dự án là truyền tải lượng điện dư thừa từ miền Bắc vào (từ cụm nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác Bà, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình) để cung cấp cho miền Nam và miền Trung lúc đó đang thiếu điện trầm trọng, đồng thời liên kết với hệ thống điện địa phương của ba miền thành một khối thống nhất.

Việc xây dựng đường dây siêu cao áp thống nhất hệ thống điện đã được đề cập trong tổng sơ đồ phát triển lưới điện giai đoạn 1 (1981 – 1985) của Việt Nam được thành lập với sự hợp tác của Liên Xô.

Dự án đã được Bộ Chính trị phê duyệt vào tháng 1/1992. Cho đến ngày 25/2/1992, Chính phủ phê duyệt Luận điểm Kinh tế – kỹ thuật với quyết định thời gian hoàn thành là 2 năm và do thời gian cấp bách nên cho phép áp dụng phương pháp khảo sát, thiết kế, nhập vật tư – thiết bị và xây dựng được thực hiện song song với nhau.

Phụ trách thiết kế phần đầu của dự án là Công ty Khảo sát Thiết kế Điện 1 (nay là Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 1) kết hợp với các Công ty Khảo sát Thiết kế điện 2 (nay là Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 2), Phân viện Thiết kế điện Nha Trang (nay là Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 4). Quá trình thiết kế bao gồm 3 giai đoạn:

– Năm 1990: Khảo sát lập Báo cáo nghiên cứu khả thi

– Kể từ cuối năm 1991 – 1992: Khảo sát kỹ thuật và thiết kế kỹ thuật

– Năm 1993: Khảo sát kỹ thuật từng vị trí và lập bản vẽ thi công.

Bối cảnh

Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Những năm 1990 – 1995, tốc độ tăng sản lượng công nghiệp bình quân đạt 12% đến 14%, GDP tăng từ 5,1% năm 1990 đến 9,5% vào năm 1995. Nhu cầu sử dụng điện cũng tăng lên hàng năm, cụ thể là 13,12% vào năm 1993, 18,43% năm 1994 và 20,62% vào năm 1995 (so với năm ngoái). Khu vực miền Nam và Thành phố Hồ Chí Minh có nền kinh tế phát triển tốt, nhưng việc phát triển nguồn điện ở khu vực này chưa thể theo kịp nhu cầu tăng trưởng. Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1994, chỉ có Nhà máy Nhiệt điện Bà Rịa – 230MW được đưa vào hoạt động. Công suất lắp đặt của Miền Nam chỉ đáp ứng được 89,73% (1005MW cài đặt, nhu cầu 1120MW) nên hạn chế phụ tải bằng cách cắt điện luân phiên hoặc đột xuất hầu hết các ngày trong tuần.

Khu vực miền Trung được cấp điện chủ yếu qua đường dây 220 kV Vinh. đường dây truyền tải – Đồng Hới nhận điện từ Hòa Bình, đường dây 66 kV từ Nhà máy Thủy điện Đa Nhim đến Cam Ranh, Khánh Hòa và một số nguồn diesel nhỏ tại địa phương. Do đường dây quá dài nên khả năng truyền tải bị hạn chế và không đảm bảo chất lượng điện năng cho cuối nguồn., thường xuyên xảy ra sự cố sập điện áp tại các khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi. Công suất lắp đặt của khu vực miền Trung chỉ đáp ứng được 40,91% nhu cầu sử dụng (90MW cài đặt, nhu cầu 220MW).

Trong khi đó, ở phía Bắc có các nhà máy nhiệt điện than Uông Bí, Ninh Bình, Phả Lại, các tổ máy số 3-8 nhà máy thủy điện Hòa Bình lần lượt được đưa vào vận hành, Miền Bắc cơ bản thừa công suất. Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam thảo luận đưa ra hai giải pháp:

  1. Bán điện dư thừa từ miền Bắc sang Trung Quốc, xây dựng các nguồn điện mới ở miền Nam và miền Trung.
  2. Xây dựng đường dây siêu cao áp truyền tải điện năng dư thừa từ Miền Bắc vào Miền Nam và Miền Trung.

Khi xem xét nhiều yếu tố kỹ thuật, chính trị, an ninh năng lượng, Chính phủ Việt Nam quyết định chọn phương án 2 với cấp điện áp 500 kV.

Vận hành

Sau khi kết thúc, đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 được bàn giao cho các Công ty Điện lực 1, 2, 3 người quản lý. Cho đến năm 1995, ngành điện thay đổi cơ cấu tổ chức, thành lập Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tổng công ty Điện lực Việt Nam), tách các Phòng Truyền tải điện ra khỏi các Công ty Điện lực để thành lập Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3, 4. Đường dây 500 kV phía Bắc – Nam mạch 1 và các trạm biến áp của nó được bàn giao cho các Công ty Truyền tải Điện quản lý, Như sau:

  • 1. Công ty truyền tải điện: Quản lý các trạm biến áp Hà Tĩnh, Hòa Bình và 955 vị trí cực với tổng chiều dài tuyến từ Đèo Ngang đến Hòa Bình là 406 km.
  • Công ty Truyền tải Điện 2: Quản lý trạm biến áp Đà Nẵng và 1352 vị trí cột với tổng chiều dài đường dây từ Hà Tĩnh đến Pleiku là 587 km.
  • 3. Công ty truyền tải điện: Quản lý trạm biến áp Pleiku và 708 vị trí cột với tổng chiều dài đường dây là 314,5 km từ Pleiku đến Đắk Nông.
  • 4 . Công ty truyền tải điện: Quản lý trạm biến áp Phú Lâm và 421 vị trí cột với tổng chiều dài đường dây từ Đắk Nông đến Phú Lâm là 183 km.

Trong quá trình hoạt động, đã xảy ra một số sự cố sạt lở móng cột do mưa lũbão ở Phước Sơn, Đắc Lây, Đắc Nông, Krôngnô. Sự cố trạm biến áp nghiêm trọng là sự cố cháy pha C máy biến áp 500 kV tại trạm Hòa Bình ngày 26/4/2000 do sét đánh và sự cố cháy pha B máy biến áp 500 kV trạm Đà Nẵng ngày 18/8/2007.

Công tác bảo vệ an ninh cho công tác quản lý vận hành đường dây cũng đã được đặt ra ngay từ khi đóng điện vận hành trên cơ sở phối hợp giữa các Bộ Năng lượng.[2], Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng với Ban Chỉ đạo bảo vệ đường dây các tỉnh có đường dây đi qua. Dọc tuyến có 342 chốt gác, mỗi chốt cách nhau khoảng 5 km đến 10 km tùy theo địa hình với khoảng 1500 người ở các địa phương tham gia..

Ý nghĩa

Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu điện ở Miền Trung và Miền Nam

Đường dây 500 kV phía Bắc – Nam mạch 1 đã được đưa vào vận hành vào tháng 5/1994 và được giải quyết cơ bản tình trạng thiếu điện của miền Nam. Sau khi đóng điện đưa vào vận hành máy biến áp 500 kV tại Đà Nẵng (9/1994) và Pleiku (tháng 11/1994), tình hình cấp điện cho miền Trung cơ bản đã được giải quyết.

Giai đoạn từ 1994 đến 1997, năng lực truyền tải chủ yếu từ Bắc vào Nam và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng cung ứng của miền Nam và miền Trung:

  • Sản lượng điện phát ra ở Hòa Bình: 9,170 tỷ kWh
  • Sản lượng điện cung cấp cho Miền Nam (trên đỉnh Phú Lâm): 6,598 tỷ kWh (chiếm 40 – 50,7%)
  • Sản lượng điện cung cấp cho Miền Trung (đầu Đà Nẵng và Pleiku): 2,074 tỷ kWh (chiếm 16,7 – 28,8%)

Đầu năm 2009, tổng sản lượng điện được truyền qua đường dây này sau 15 năm vận hành (đếm cả hai cách) là 148 tỷ kWh.

Thống nhất hệ thống điện Việt Nam

Về mặt kỹ thuật, đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 được hợp nhất hệ thống điện ba Miền (trước đây hoạt động độc lập với nhau) từ đó tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau về hệ thống điện giữa các khu vực, tăng độ ổn định chung và độ tin cậy của toàn bộ hệ thống.

Về mặt chính trị, việc thống nhất hệ thống điện 3 miền là cơ sở kỹ thuật cần thiết để thực hiện chủ trương quản lý hệ thống điện tập trung, chấm dứt “cát cứ” của các Công ty Điện lực Khu vực (Công ty Điện lực 1 Miền Bắc, Công ty Điện lực 2 miền Nam và Công ty điện lực 3 miền Trung). Vì mục đích này, đã thành lập Trung tâm Điều độ Quốc gia, đầu tiên là quản lý đường dây 500kV. hệ thống, cho đến năm 1999, Trung tâm này tiếp quản, quản lý toàn bộ nhà máy điện và 3 Trung tâm Điều độ hệ thống điện khu vực. Đồng thời với việc thành lập Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tổng công ty Điện lực Việt Nam), các Công ty Điện lực 1, 2, 3 được chia thành các Công ty Truyền tải và một số Công ty Điện lực, hệ thống điện Việt Nam rút gọn về một hệ thống quản lý duy nhất theo mô hình Tổng công ty Nhà nước.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button