Văn Miếu Được Xây Dựng Vào Năm Nào ?

Văn Miếu Được Xây Dựng Vào Năm Nào? Trải qua hơn 1000 năm lịch sử, Văn Miếu- Quốc Tử Giám vẫn giữ được vẻ cổ kính với đặc điểm kiến trúc của nhiều thời đại và là một trong những di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và quan trọng bậc nhất của Thủ đô và cả nước…

Văn Miếu Được Xây Dựng Vào Năm Nào ?

Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng vào năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông, là một nơi để tôn thờ Khổng Tử, các nhà hiền triết của Nho giáo và Quốc Tử Giám Chu Văn An, những người thầy đạo cao, đức trọng của giáo dục Việt Nam. Quốc Tử Giám được xây dựng vào năm 1076 dưới triều đại của Vua Lý Nhân Tông, đó còn là một nơi để đào tạo tài năng cho đất nước, là trường đại học đầu tiên ở nước ta.

Đền thờ kiến ​​trúc văn học -Quốc Tử Giám

Văn Miếu – Quốc Tử Giám nằm ở phía nam thành Thăng Long (Bây giờ là Hà Nội), đối mặt với phía nam với tổng diện tích 55.027m2 bao gồm cả Hồ Văn, vườn Giám và Nội tự. Bản thân bên trong được chia thành năm khu vực: Khu vực đầu tiên là từ cổng Đền văn học đến cổng lớn Đại Trung. Khu vực thứ hai nổi bật với Khuê Văn Các, một tác phẩm kiến ​​trúc độc đáo được xây dựng vào năm 1805 với kiến ​​trúc bằng gỗ, bốn mặt có cửa sổ tròn và mũi tên tỏa ra theo mọi hướng, đại diện cho hình ảnh của ngôi sao sáng. Khu vực thứ ba là nơi để giữ tấm bia của các tiến sĩ vào năm 1484. Khu vực thứ tư tôn thờ Khổng Tử và bài vị của 72 môn đệ xuất sắc của Khổng Tử và thờ phượng Chu Văn An, tư nghiệp Quốc Tử Giám. Khu vực thứ năm là Nhà Thái Học, trước là Quốc Tử Giám xưa, trường đại học quốc gia đầu tiên xác lập ở nước ta.

Các tác phẩm kiến ​​trúc của Đền văn học được xây dựng bằng gỗ sắt, gạch đất nung, hài ngói mũi theo phong cách nghệ thuật của các triều đại nhà Lê, Nguyễn và những cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Để tôn vinh truyền thống văn hóa giáo dục ở Việt Nam, dự án Thái Học được xây dựng vào năm 2000 trên nền tảng của Quốc Tử Giám cũ (Thái Học đường) với diện tích hơn 6000m2.

Nhiệm vụ của Đền văn học

a. Thời gian dài trước đây

– Ngoài nhiệm vụ giáo dục, để đào tạo những nhân tài tại kinh sư, Trường Quốc Tử Giám cũng thực hiện một nhiệm vụ quan trọng khác là in ấn các tài liệu, kinh thánh Nho giáo để phục vụ co thầy, trò ở các học phủ, trường, lớp học trong nước.

– Độc lập sớm, sách học trường ở nước ta phải được nhập khẩu từ Trung Quốc, đường xa, lệ thuộc, chi phí đắt tiền, số lượng sách hạn chế gây khó khăn cho việc học tập, giảng dạy. Cho đến thế kỷ XV, ngành công nghiệp in gỗ trong nước được phát triển, người Việt Nam đã tự in, xuất bản sách. Quốc Tử Giám trở thành nơi cung cấp sách giáo khoa cho thầy – trò trong cả nước.

– Cho đến bây giờ, không rõ khi nào Quốc Tử Giám bắt đầu in sách giáo khoa cho các sinh viên Nho giáo, nhưng bằng chứng lịch sử đã chỉ ra rằng trường Quốc Tử Giám có chức năng này. Năm 1483, vua Lê Thánh Tông khi cho phép mở rộng nhà Thái Học, xây dựng Minh Luân đường, giảng đường, ông cũng đã xây dựng Ban thư ký để in sách học cho học sinh. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục đã mô tả kho Bí thư của Quốc Tử Giám có 4 ngăn dùng để lưu trữ in sách.

– Tương truyền, nghề in của Việt Nam có từ thời nhà Lý (in kinh kệ, tranh vẽ…) nhưng không thực sự phát triển. Sau này, Thám hoa Lương Như Hộc (1420-1501) triều Lê, sau hai lần ghé thăm (năm 1443 và 1459) đã mang nghề in mộc bản của Trung Quốc về truyền lại cho dân làng Hồng Lục và Liễu Tràng, xã Hồng Liễu lúc bấy giờ. Từ đó, ngành công nghiệp in cuốn sách ở nước ta đang dần phát triển. Vua Lê Thánh Tông đã nhiều lần cấp chiếu cho thợ Hồng Liễu lên Kinh thành để khắc mộc bản và in sách cho triều đình. Thời kỳ Hồng Đức, sách được in thành loạt. Do đó, thơ của thời kỳ Hồng Đức đã rất phát triển, lan rộng trong cuộc sống.

b. Thời hiện đại ngày nay

– Về mặt di tích mà nói thì 2 bia Tiến sĩ ở 2 bên giếng Thiên Quang là nơi bảo tồn những di tích quý giá nhất của cả khu di tích lịch sử ngày này. 82 bia tiến sĩ vẫn có giá trị theo nhiều cách. Đây là những tài liệu văn bản gốc duy nhất được giữ trên trang web, liên tục kể từ khi nó được xây dựng.

– Các nhà sử học có thể tìm thấy ở đây các tài liệu về lịch sử giáo dục, về những cái tên liên quan đến lịch sử của quốc gia, quê quán, tên của những người tài năng được ghi lại chi tiết, chính xác qua đó có thể xác định tuổi của nhiều di tích ở những nơi không có niên đại.

– Các nhà địa lý có thể tìm kiếm những nơi cũ để tìm những vùng đất cổ liên quan đến thời điểm hiện tại.

– Các nhà triết học có thể tìm thấy ở đây bằng chứng để xác định vai trò của Nho giáo ở Việt Nam

– Người dân Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới cũng đến đây để tìm tên của một tổ tiên nào đó trong gia đình họ có tên trong danh sách khoa bảng.

– Đây cũng là những tài liệu có hệ thống, trong ít nhất 3 thế kỷ (Từ 1484 đến 1780) về kỹ thuật chạm khắc đá. Các nhà nghiên cứu nghệ thuật và nghệ sĩ thị giác có thể hình thành hình dạng bia, rùa, các mô hình và họa tiết được khắc trên tấm bia tìm thấy tinh túy của nghệ thuật quốc gia để quảng bá, áp dụng cho các sáng tạo hiện đại.

– Đã có nhiều bài báo nghiên cứu viết về bia tiến sĩ. Tuy nhiên, việc khai thác vật chất của hai nhà máy bia vẫn đang tiếp tục. Các nhà khoa học đều tin rằng văn bia tiến sĩ xứng đáng là một pho “sử đá” có nhiều giá trị văn hóa độc đáo và hiếm, lịch sử, nghệ thuật chế tạo… không chỉ với Việt Nam mà cả thế giới.

Học tại Quốc Tử Giám

Tổ chức giảng dạy, học tập tại Quốc Tử Giám bắt đầu từ năm 1076 dưới thời nhà Lý, được phát triển và hoàn thiện dưới triều đại nhà Lê, thế kỷ thứ XV. Người đứng đầu Quốc Tử Giám là Tế tửu (hiệu trưởng) và Tư Nghiệp (Hiệu phó), phụ trách giảng dạy có các vị trí sau:: Giáo thụ, Trực giảng, trợ lý giảng dạy và bác sĩ.

Giám sinh (học trò) chủ yếu là những người vượt qua kỳ thi Hương, sau khi vượt qua một kỳ thi tại Bộ Nghi lễ, thì sẽ được nhận vào Quốc Tử Giám để học và chuẩn bị cho kỳ thi Hội và Đình. Người kiểm tra được chia thành ba lớp: Thượng xá, Trung xá và Hạ xá. Thời gian học tối thiểu là 3 năm và tối đa là 7 năm. Quá trình học tập chủ yếu là lắng nghe các bài giảng, bình luận và viết.

Ứng viên sau khi vượt qua 4 kỳ thi (bài kiểm tra Kinh nghĩa; thi chế, chiếu, biểu; thi thơ phú, kỳ thi văn học) mới được nhận vào kỳ thi Đinh. Thi Đinh được tổ chức tại Cung điện Hoàng gia, bởi chính do đích thân nhà vua ra đề và chấm duyệt lần cuối. Những người vượt qua kỳ thi Đinh được phân loại thành 3 lớp: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa); Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) và Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ).

Lịch sử kỳ thi của Việt Nam bắt đầu từ năm 1075 đến kỳ thi Nho giáo cuối cùng vào năm 1919, với 2898 người đã đỗ Đại Khoa. Khoa vượt qua ít nhất chỉ chọn 3 người, các giảng viên đã vượt qua nhiều nhất chỉ chọn 62 người. Người đỗ đạt trẻ nhất là Trạng nguyên Nguyễn Hiền (Phòng thi 1247) khi đó mới 13 tuổi, người đỗ cao tuổi nhất là Tiến sĩ Quách Đồng Dần (kỳ thi 1634) khi đó ông đã 68 tuổi.

Bia của các tiến sĩ

Một trong những tượng đài nổi tiếng của Đền văn học – Quốc Tử Giám là 82 tấm bia Tiến sĩ, ghi họ tên đầy đủ, quê quán của 1307 vị Tiến sĩ của 82 phòng thi từ 1442- 1779 bao gồm 81 khoa của triều đại nhà Lê và 1 giảng viên của triều đại Mạc. Bia Tiến sĩ toàn bộ được khắc trên loại đá màu xanh, kích thước không đồng đều được khắc các mẫu hoa văn tinh tế, sắc xảo. Bia Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) làm nổi bật tầm quan trọng của đào tạo tài năng và khuyến khích: “Tài năng là nguồn nhân lực quốc gia. Nếu nguyên khí là thịnh vượng, thì sức mạnh của đất nước rất mạnh mẽ và thịnh vượng,  Nếu khí nguyên khi suy kiệt, tiềm năng nước cũng vì thế mà yếu thấp. Vì thế, các bậc đế vương, không có ai là không coi việc chọn một học giả, nuôi dưỡng tài năng, tu luyện tinh thần dân tộc để thực hiện công việc khẩn cấp… Vì vậy, khắc đá để được dựng lên tại Cổng Thái Học cho các học giả từ mọi hướng về để ngưỡng mộ, hâm mộ và phấn khích Đào tạo tên, hăng hái nhiệt tình đi về phía trước để giúp đỡ gia đình hoàng gia. Nó chỉ là tình yêu của sự phù phiếm hay đó chỉ là vấn đề hư cấu”.

Bia được đặt ở phía sau lưng rùa. Rùa là một trong bốn linh vật: Long, Ly, Qui, Phượng. Rùa sống lâu, có sức khỏe nên việc đặt bia Tiến sĩ trên lưng rùa đá thể hiện sự tôn trọng tài năng và trường tồn mãi mãi.

Ngày nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một nơi để tham quan cho khách du lịch trong và ngoài nước cũng như là một nơi để khen ngợi những sinh viên xuất sắc và cũng là nơi tổ chức một lễ hội thơ hàng năm vào ngày trăng tròn của tháng đầu tiên. Đặc biệt, đây cũng là nơi các sĩ tử ngày nay đến “cầu may” trước mỗi kỳ thi. Cảm ơn bạn đã quan tâm!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button